Đến khi phong trào thơ mới bắt đầu, tạp chí của ông chính thức đình bản. Sự kiện này bị rất nhiều người thuộc phe thơ mới thời đó cười cợt, đem ra châm biếm.

Ban đầu, Tản Đà im lặng trong phong trào này. Đến tận năm 1934, ông mới đưa ra một vài lời khuyên nhẹ nhàng gửi những nhà thơ mới.

Tuy vậy, Tản Đà là nhà thơ nổi tiếng nhất trong làng thơ cũ đương thời. Và rất nhiều người thuộc phong trào thơ mới xem ông là cái gai trong mắt, là đối tượng chính cho cuộc “đánh đổ” của mình.

Các tờ “Phong hoá”, “Tự lực văn đoàn” thường xuyên lên bài chê bai ông. Như tính nghiện rượu, tính hay nói, thậm chí cãi mũi đỏ của ông cũng bị đem ra làm đề tài châm biếm.

Sau đó ông đã phải sống một cuộc đời rất khắc khổ. Từ làm đoán số, làm thơ thuê, nhận dạy thuê. Điều này khiến những người yêu thích ông không khỏi buồn thương cho số phận một nhà thơ tài hoa.

Qua đời và được phe thơ mới tôn vinh

Sau khi bị thơ mới đánh đổ, Tản đà đã sống những ngày buồn hiu hắt và buồn thảm. Nhưng những nhà thơ mới, khi đã chiến thắng họ không còn đả kích ông nữa.

Lúc ấy, họ bắt đầu lật lại những cống hiến của Tản Đà đối với nền văn học . Họ ca ngợi Tản Đà, xem ông như một ông thánh của làng thơ văn. Thậm chí Tự lực văn đoàn còn mời ông cộng tác, viết bài.

Thật mỉa mai, khi ông mất trên một chiếc giường rách nát ở NGã Tư Sở,  làng văn nghệ trong nước bỗng xôn xao. Hàng loạt người từng chê bai, đả kích ông cũng “góp gió” làm điếu văn thương tiếc. Đây cũng là điều mà hậu thế nhìn lại để góp chút phần phán xét những gì đã qua.

Chính vì điều này, mình nghĩ ông nên được coi là thi nhân của 2 thời kỳ. Ông đã trải qua rất nhiều vinh nhục giữa sự đánh đổ và được tôn vinh. Nhưng may mắn thay, chúng ta vẫn giữ được những áng văn thơ tuyệt vời nhất của ông cho hậu thế.

Phong cách văn chương của Tản Đà

  • Lãng mạn và bay bổng.
  • Phóng khoáng, ngông nghênh mà vẫn giữ được sự cảm thương, ưu ái.
  • Có thể xem thơ văn của ông như một gạch nối giữa hai thời đại của văn học nước nhà: Trung đại và hiện đại.
  • Ông có lối đi riêng, vừa tìm về ngọn nguồn thơ ca dân tộc, nhưng vẫn giữ lại cho mình những sáng tạo tài hoa hết mức.

Ở mỗi tác phẩm của mình, Tản Đà đều ghi lại dấu ấn rõ nét. Từ đó, giúp người đọc nhận ra cái ngông nghênh nhưng vẫn rất trữ tình. Đủ để chúng ta cảm nhận được một hồn thơ đang “chán đời” giữa sự chuyển giao của thời cuộc.

Những tác phẩm của Tản Đà

Thơ

  • Khối tình con I (1916)
  • Khối tình con II (1916)
  • Tản Đà xuân sắc (1918)
  • Còn chơi (1921)
  • Thơ Tản Đà (1925)
  • Khối tình con III (1932)

Tuồng

  • Thiên Thai (1916)
  • Người cá (1917)

Văn

  • Giấc mộng con I (1917), tiểu thuyết
  • Khối Tình (1918, Đông Kinh ấn quán in), tản văn
  • Thần tiền (1919), truyện
  • Đàn bà Tàu (1919), tập truyện
  • Đài gương (1919), giáo khoa
  • Lên sáu (1920), giáo khoa
  • Lên tám (1920), giáo khoa
  • Tản Đà tùng văn (1922)
  • Truyện thế gian I (1922), tập truyện
  • Thề non nước (1922), truyện
  • Truyện thế gian II (1922), tập truyện
  • Trần ai tri kỷ (1924), truyện
  • Tản Đà nhàn tưởng (1929), bút ký triết học
  • Giấc mộng con II (1932), tiểu thuyết
  • Giấc mộng lớn (1932), tự truyện
  • Tản Đà văn tập (1932)

Kịch

  • Tây Thi (1922)
  • Tống biệt (1922)

Lịch sử

  • Quốc sử huấn mông (1924)

Dịch thuật

  • Liêu Trai chí dị (1934)

Nghiên cứu

  • Vương Thúy Kiều chú giải (1938)
  • Một số bài báo…

Viết về Tản Đà

  • Uống rượu với Tản Đà của Trương Tửu (1939)
  • Tản Đà uống rượu làm tôi say đến bay giờ của Vũ Bằng (1970)
  • Người ghét Tản Đà của Vũ Bằng

Lời kết

Có lẽ, mình chỉ viết về Tản Đà được như vậy. Vì thực sự những vần thơ cổ của ông, mình chưa đủ duyên để hiểu hết bằng vốn tri thức con con của mình. Nếu có điều gì cần đóng góp, bạn hãy trao đổi với mình qua comment nhé.